f TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI THÁNG 4/2017

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI THÁNG 4/2017

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI THÁNG 4/2017

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI THÁNG 4/2017

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI THÁNG 4/2017

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI THÁNG 4/2017
TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI THÁNG 4/2017
Báo giá

Chi tiết

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI THÁNG 4/2017

TÌNH HÌNH CHUNG 

Theo Bộ Nông nghiệp & PTNT, trong tháng 4/2017, tình hình chăn nuôi trong phạm vi cả nước có nhiều biến động. Chăn nuôi bò trên cả nước tiếp tục tăng do các dự án chăn nuôi bò đang được triển khai và thị trường tiêu thụ tốt. Tuy nhiên, đàn trâu giảm chủ yếu do diện tích chăn thả ngày càng bị thu hẹp. Theo Tổng cục Thống kê, ước tính hiện tại tổng số trâu của cả nước giảm khoảng 0,1%, tổng số bò tăng khoảng 2,3% so với cùng kỳ năm 2016. Chăn nuôi lợn gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ, giá thịt lợn hơi giảm mạnh trong những tháng đầu năm và tiếp tục giảm sâu trong tháng 4, người chăn nuôi phải chịu thua lỗ nặng. Do giá bán thịt lợn hơi từ đầu năm thấp hơn giá thành nên đã có xu hướng giảm đàn, ước tính số lượng lợn hiện tại của cả nước giảm khoảng 0,2% so với cùng kỳ năm 2016.

Chăn nuôi trâu, bò: Theo Tổng cục Thống kê ước tính, tổng số trâu của cả nước giảm 0,1%, tổng số bò tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2016, nguyên nhân đàn trâu giảm chủ yếu do diện tích chăn thả ngày càng bị thu hẹp, đối với chăn nuôi bò do các dự án chăn nuôi đang được triển khai và thị trường tiêu thụ tốt nên một số doanh nghiệp vẫn tăng cường mở rộng đầu tư chăn nuôi.

Chăn nuôi lợn: Giá thịt lợn hơi giảm mạnh trong những tháng đầu năm và tiếp tục giảm sâu trong tháng 4 dẫn đến tình trạng người chăn nuôi bị thua lỗ lớn. Một số hộ chưa dám tăng đàn vào thời điểm hiện tại mà chỉ cố gắng duy trì hoặc giảm nhẹ quy mô đàn do chuồng trại và con giống có sẵn. Theo số liệu ước tính của TCTK, tổng số lượng lợn cả nước giảm 0,2% so với cùng kỳ 2016.

Chăn nuôi gia cầm: Chăn nuôi gia cầm phát triển tương đối ổn định. Ước tính tổng số gia cầm của cả nước hiện tại tăng khoảng 3,1% so với cùng kỳ năm 2016

Dịch bệnh: Theo Cục Thú y, tính đến thời điểm 25/04/2017 tình hình dịch bệnh trong cả nước như sau:

1. Dịch Cúm gia cầm (CGC)

Trong ngày, có báo cáo 01 ổ dịch cúm H5N1 mới phát sinh tại tỉnh Cao Bằng, cụ thể như sau:

Tỉnh Cao Bằng: 01 ổ dịch cúm H5N1 xảy ra tại 02 hộ chăn nuôi thuộc phường Ngọc Xuân, thành phố Cao Bằng. Tổng số mắc bệnh và chết là 700 con, số tiêu hủy là 2.004 con (1.974 con vịt, 30 con gà). Chi cục Chăn nuôi Thú y tỉnh đã phối hợp cùng chính quyền địa phương thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định.

Hiện nay, cả nước có 06 ổ dịch Cúm gia cầm A/H5N1 xảy ra tại 07 hộ chăn nuôi trên địa bàn 05 tỉnh và 02 ổ dịch Cúm gia cầm A/H5N6 xảy ra tại 02 hộ chăn nuôi trên địa bàn 01 tỉnh, chưa qua 21 ngày:

(1) Tỉnh Cao bằng (cúm H5N1) 01 ổ dịch cúm H5N1 xảy ra tại 02 hộ chăn nuôi thuộc phường Ngọc Xuân, thành phố Cao Bằng. Tổng số mắc bệnh và chết là 700 con, số tiêu hủy là 2.004 con (1.974 con vịt, 30 con gà).

(2) Thành phố Cần Thơ (cúm A/H5N1): 01 ổ dịch xảy ra tại 01 hộ chăn nuôi tại phường Tân Phú, quận Cái Răng (đã qua 10 ngày). Số mắc bệnh là 100 con gà, số chết là 75 con gà và số tiêu hủy là 2.500 con gà.

(3) Tỉnh Vĩnh Long (cúm A/H5N1): 02 ổ dịch xảy ra tại:

- 01 hộ chăn nuôi gia cầm thuộc phường Thành Phước, thị xã Bình Minh (đã qua 17 ngày). Số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 3.000 con gà.

- 01 hộ chăn nuôi thuộc xã Mỹ Thuận, huyện Bình Tân (đã qua 11 ngày). Số gia cầm mắc bệnh là 300 con gà, số chết là 210 con gà và số tiêu hủy là 400 con gà.

(4) Tỉnh Đắk Lắk (cúm A/H5N1): 01 ổ dịch xảy ra tại 01 hộ chăn nuôi gia cầm thuộc phường An Bình, thị xã Buôn Hồ (đã qua 20 ngày). Số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 43 con ngan và gà.

(5) Tỉnh Quảng Ninh (cúm A/H5N1): 01 ổ dịch xảy ra tại 01 hộ chăn nuôi thuộc khu 2, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái (đã qua 12 ngày). Số gia cầm ốm, chết là 320 con (240 vịt và 80 ngan) và số gia cầm tiêu hủy là 670 con (570 con vịt và 100 con ngan).

(6) Tỉnh Thừa Thiên Huế (cúm A/H5N6): 02 ổ dịch xảy ra tại 02 hộ chăn nuôi thuộc các xã Lộc An và Lộc Hòa, huyện Phú Lộc (đã qua 20 ngày). Số gia cầm mắc bệnh và tiêu hủy là 6.500 con vịt.

2. Dịch Lở mồm long móng gia súc (LMLM)

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch LMLM.

3. Dịch Tai xanh trên lợn

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh.

4. Nhận định tình hình dịch

Cúm gia cầm: Nguy cơ dịch phát sinh và lây lan trong thời gian tới là rất cao. Một số chủng vi rút cúm gia cầm chưa có ở Việt Nam (A/H7N9, A/H5N2, A/H5N8) có nguy cơ xâm nhiễm vào trong nước thông qua các hoạt động vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ gia cầm và sản phẩm gia cầm nhập lậu, không rõ nguồn gốc, nhất là đối với các tỉnh biên giới phía Bắc và các tỉnh, thành phố khác có tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu. Các địa phương cần chủ động trong công tác phòng, chống Cúm gia cầm; tăng cường kiểm soát và xử lý nghiêm việc nhập lậu gia cầm, giám sát chặt địa bàn để phát hiện và xử lý ổ dịch kịp thời.

Lở mồm long móng: Các địa phương thuộc khu vực có nguy cơ cao, nơi có ổ dịch cũ, có đàn gia súc chưa được tiêm phòng triệt để, đặc biệt các địa phương có dự án cung ứng con giống gia súc, xóa đói giảm nghèo cần tăng cường giám sát, phát hiện sớm ổ dịch, tổ chức tiêm phòng vắc xin LMLM, kiểm soát chặt việc vận chuyển gia súc, quản lý giết mổ gia súc để giảm thiểu nguy cơ phát sinh, lây lan dịch.

Tai xanh trên lợn: Trong thời gian tới, có thể xuất hiện các ổ dịch nhỏ lẻ trên địa bàn có ổ dịch cũ và khu vực có nguy cơ cao. Các địa phương cần tăng cường giám sát dịch bệnh trên đàn lợn, phát hiện sớm ổ dịch, thực hiện nghiêm các qui định về kiểm dịch vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn, tăng cường kiểm soát giết mổ lợn, chủ động ngăn chặn dịch phát sinh và lây lan.

Các địa phương căn cứ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, thông báo của Cục Thú y về lưu hành vi rút Cúm gia cầm, Lở mồm long móng, Tai xanh và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2016 (văn bản số 2151/TY-DT ngày 24/10/2016) để tổ chức mua đúng loại vắc xin phòng, chống dịch nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

Thang 4

 

THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM CHĂN NUÔI

Hiện giá thu mua lợn hơi trên thị trường dao động ở mức 25.000 – 27.000 đ/kg (tùy địa phương), giảm một nửa so với thời điểm cùng kỳ năm ngoái và hiện đang ở mức thấp nhất kể từ đầu năm đến nay. Tuy giá lợn hơn giảm mạnh trong những tháng qua nhưng giá thịt lợn trên thị trường chỉ giảm nhẹ. Trái chiều với giá lợn hơi, giá gà công nghiệp lông trắng và gà lông màu hiện đang ở mức khá cao do thời tiết thất thường khiến gà chậm lớn, năng suất không ổn định.

Ngoài ra, giá gà tăng còn do một số công ty chăn nuôi lớn chuyên cung cấp lượng gà lớn cho thị trường sau thời gian lỗ nặng đã giảm đàn. Cụ thể là, giá thu mua gà lông màu tại các tỉnh phía Nam đã tăng khoảng 4.000 – 7.000 đ/kg so với hồi đầu tháng, hiện đạt 33.000 – 34.000 đ/kg tại các tỉnh Đông Nam Bộ và 34.000 – 35.000 đ/kg tại các tỉnh ĐBSCL. Đồng thời, giá thu mua gà lông trắng ổn định ở mức giá khá cao là 34.000 – 35.000 đ/kg tại các tỉnh Đông Nam Bộ và 33.000 – 34.000 đ/kg tại các tỉnh ĐBSCL.

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại: http://channuoivietnam.com/bieu-2/

THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU

Thức ăn gia súc và nguyên liệu nhập khẩu: 

Ước giá trị nhập khẩu nhóm mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu trong tháng 4/2017 ước đạt 290 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu mặt hàng này 4 tháng đầu năm 2017 lên 1,19 tỷ USD, tăng 29,9% so với cùng kỳ năm 2016. Thị trường nhập khẩu chính của nhóm mặt hàng này trong 3 tháng đầu năm 2017 là Achentina (chiếm 45,7% thị phần), tiếp đến là Hoa Kỳ (11,6%), Ấn Độ (chiếm 4,5% thị phần) và Trung Quốc (4,3%). Thị trường có tăng trưởng mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là thị trường Italia (tăng hơn 6 lần) tiếp đến là thị trường Ấn Độ (tăng 74,6%). Thị trường có giá trị giảm mạnh nhất là thị trường Áo, so với cùng kỳ năm 2016 thị trường này đã giảm 18,4%.

Lúa mì:

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 4/2017 đạt 206 nghìn tấn với giá trị đạt 46 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này 4 tháng đầu năm 2017 đạt 1,7 triệu tấn và 346 triệu USD, tăng 35,2% về khối lượng và tăng 25,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 3 tháng đầu năm 2017 là Úc, chiếm tới 32,4%; tiếp đến là Canada chiếm 15,9%, thị trường Braxin chiếm 3,9%, thị trường Nga chiếm 3,7% và thị trường Hoa Kỳ chiếm 0,2% tổng giá trị nhập khẩu lúa mỳ. Các thị trường nhập khẩu lúa mì hầu hết đầu giảm cả về khối lượng và giá trị so với cùng kỳ năm 2016 ngoại trừ thị trường Canada. Thị trường này trong 3 tháng đầu năm 2017, khối lượng lúa mì tăng hơn 16 lần và giá trị tăng hơn 12 lần. 11 Thị trường có giá trị nhập khẩu giảm mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là thị trường Hoa Kỳ (giảm 95,4%).

Đậu tương:

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 4/2017 đạt 152 nghìn tấn với giá trị 68 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương 4 tháng đầu năm 2017 đạt 289 nghìn tấn và 130 triệu USD, giảm 39,4% về khối lượng và giảm 31,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Ngô:

Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 4/2017 đạt 883 nghìn tấn với giá trị đạt 181 triệu, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 4 tháng đầu năm 2017 đạt 2,36 triệu tấn và 488 triệu USD, giảm 8% về khối lượng và giảm 3,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Braxin và Achentina là hai thị trường nhập khẩu ngô chính trong 3 tháng đầu năm 2017, chiếm lần lượt là 30,5% và 26,8% tổng giá trị nhập khẩu của mặt 12 hàng này. Đặc biệt, trong 3 tháng đầu năm 2017, khối lượng nhập khẩu ngô của thị trường Thái Lan tăng hơn 20 lần so với cùng kỳ năm 2016 nhưng giá trị lại chỉ tăng có hơn 2,4 lần.

Sắn và các sản phẩm từ sắn XK:

Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 4 năm 2017 ước đạt 304 nghìn tấn với giá trị đạt 80 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn 4 tháng đầu năm 2017 ước đạt 1,5 triệu tấn và 376 triệu USD, giảm 6,9% về khối lượng và giảm 11% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Trong 3 tháng đầu năm 2016, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu chính, chiếm tới 89,2% thị phần, tăng 1,2% về khối lượng và giảm 5,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. 10 Trong 3 tháng đầu năm 2017, thị trường Nhật Bản có giá trị nhập khẩu sắn và các sản phẩm sắn của Việt Nam giảm mạnh (90,1%).

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com

backtop